Cordycepin lần đầu tiên được tách ra từ C. militaris năm 1950 do Cunningham và cộng sự thực hiện, sau đó chúng cũng được tìm thấy ở C. sinensis và C. kyushuensis. Mặc dù cordycepin có thể được tổng hợp hóa học nhưng chỉ cho sản lượng thấp. Cordyceps tự nhiên chứa lượng cordycepin vào khoảng 0,006 – 6,36 mg/g.

Cordycepin có khả năng kháng nấm, kháng ung thư và kháng virus. Gần đây hơn, cordycepin cũng cho thấy khả năng điều hòa sản phẩm của interleukins trong tế bào lympho T. Cordycepin phát huy tác dụng gây độc tế bào thông qua methyl hóa acid nucleic, ức chế sự phát triển của Clostridium paraputrificum và Clostridium perfringens, nhưng không có tác động nào tới Bifidobacterium spp. và Lactobacillus spp. do Ahn và cộng sự đã chứng minh năm 2000. Cụ thể,

  • Polysaccharides đảm nhiệm chống viêm, chống oxy hóa, chống ung thư, chống di căn khối u, điều hòa miễn dịch , hypoglycaemic, steroidogenic và hypolipidaemic.
  • Cordycepin đảm nhiệm chống ung thư, trừ sâu, chống nhiễm khuẩn.
  • Ergosterol ức chế ung thư, và điều hòa miễn dịch. Hiệu quả chống ung thư Khả năng ức chế sự phát triển của các khối u được phát hiện ở nhiều chi của loài Cordyceps.

Các thành phần hoạt tính sinh học có tác động chống ung thư chủ yếu là polysaccharide, sterols và adenosine. Trong đó, sterols và adenosine là các chủ đề nghiên cứu nóng nhất về khả năng chống ung thư

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *